Tổng quan về các thuốc điều trị tăng huyết áp

0
90
Tổng quan về các thuốc điều trị tăng huyết áp
Tổng quan về các thuốc điều trị tăng huyết áp

Tăng huyết áp được xếp vào trong danh mục một trong những bệnh hàng đầu gây ra các biến chứng về tim mạch. Không khó để bắt gặp một người già bị tăng huyết áp đến hỏi mua thuốc điều trị mà chưa qua bác sĩ chuẩn đoán. Để có thể giúp các dược sĩ tư vấn nắm rõ về các vấn đề xoay quanh thuốc điều trị tăng huyết áp thì bài này Healcentral.org xin được giới thiệu tới các bạn cái nhìn tổng quan nhất về thuốc điều trị bệnh tăng huyết áp.

Tăng huyết áp là gì?

Trước khi tìm hiểu về thuốc điều trị tăng huyết áp, chúng ta cần tìm hiểu một cách khái quát tăng huyết áp là gì và tại sao chúng ta lại cần phải điều trị tăng huyết áp.

Huyết áp là áp lực của máu tác động lên thành mạch khi lưu thông trong cơ thể. Khi đo huyết áp, người ta đo huyết áp động mạch tại cánh tay. Huyết áp động mạch khi đo ta xác định được hai trị số: huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa) và huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu). Huyết áp tâm thu đại diện cho áp lực máu lên thành động mạch khi tim co bóp, huyết áp tâm trương đại diện cho áp lực máu lên thành động mạch khi tim giãn (nghỉ).

Tăng huyết áp được chẩn đoán khi đo huyết áp vào hai ngày khác nhau, huyết áp tâm thu ở cả hai ngày ≥ 140 mmHg và / hoặc huyết áp tâm trương ở cả hai ngày ≥ 90 mmHg (huyết áp được đo trong điều kiện bác sĩ yêu cầu). Hình dưới là bảng phân loại tăng huyết áp thường dùng:

Bảng phân loại tăng huyết áp hay dùng
Bảng phân loại tăng huyết áp hay dùng. Nguồn: internet

Tuy nhiên không nên tuyệt đối hóa các số liệu. Vì tiêu chuẩn tăng huyết áp còn phụ thuộc nhiều vào tuổi tác. Theo WHO, các trị số huyết áp tiêu chuẩn nên có với các lứa tuổi như sau:

Huyết áp tiêu chuẩn theo tổ chức y tế thế giới WHO
Huyết áp tiêu chuẩn theo tổ chức y tế thế giới WHO

Tăng huyết áp nguy hiểm là bởi chúng hầu như ít gây ra các triệu chứng cho bệnh nhân nên ít ai để ý đến nó, tuy nhiên lại có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng, có thể gây tử vong. Tăng huyết áp còn được gán cho biệt danh “Kẻ giết người thầm lặng”. Các biến chứng phổ biến hay gặp của tăng huyết áp là trên các cơ quan:

  •       Tim: Suy tim, bệnh mạch vành, tổn thương cơ tim, tắc động mạch…
  •       Thận: Giảm dòng máu đến thận, giảm mức lọc cầu thận, suy thận mạn…
  •       Mắt: Phù gai thị, tăng áp lực nội nhãn, nhìn mờ, mù lòa…
  •       Não: Nhức đầu, vỡ mạch não, đột quỵ…
Các biến chứng của bệnh tăng huyết áp
Các biến chứng của bệnh tăng huyết áp

Vì vậy điều trị tăng huyết áp là cực kì quan trọng và cần thiết. Điều trị càng sớm thì càng giảm thiểu được nguy cơ mắc các biến chứng và tử vong.

Các thuốc sử dụng trong điều trị tăng huyết áp

Điều đầu tiên phải ghi nhớ rằng 95% tăng huyết áp là vô căn (không rõ nguyên nhân). Vì vậy, điều trị tăng huyết áp là điều trị lâu dài và có thể suốt đời. Ngoài sử dụng thuốc đều đặn, bệnh nhân cũng cần tuân theo chế độ ăn uống, sinh hoạt mà bác sĩ khuyến cáo để quản lí bệnh một cách tốt nhất.

Các nhóm thuốc hiện đang được sử dụng trong điều trị tăng huyết áp trên lâm sàng là:

Hiện nay có 6 nhóm.

  1. Thuốc chẹn kênh calci (Calcium Channel Blockers).

2. Thuốc chẹn β-adrenergic (Beta blockers).

3. Thuốc ức chế hệ RAA (Renin – Angiotensin – Aldosterone) gồm 3 nhóm nhỏ

  • Thuốc ức chế renin trực tiếp.
  • Thuốc ức chế men chuyển angiotensin (Angiotensin Converting Enzyme Inhibitors – ACEIs).
  • Thuốc chẹn thụ thể angiotensin (Angiotensin Receptor Blockers – ARBs).

4. Thuốc chủ vận thụ thể α­2-adrenergic

5. Thuốc lợi tiểu.

6. Thuốc giãn mạch trực tiếp hoặc có cơ chế khác.

Một số thuốc thuộc nhóm khác như: thuốc chẹn thụ thể α­1-adrenergic, thuốc ức chế giao cảm ngoại biên, thuốc liệt hạch… rất ít dùng điều trị tăng huyết áp trên lâm sàng nên không đề cập ở đây.

Thuốc chẹn kênh calci

Bình thường nồng độ Ca2+ ngoại bào lớn hơn nội bào nhiều lần. Nhóm thuốc này có tác dụng chung đó là ngăn không cho ion Ca2+ từ ngoại bào vào trong tế bào. Ion không vào được tế bào sẽ gây nên các hiệu ứng: giãn cơ trơn động mạch, lực co bóp cơ tim giảm và dẫn truyền tín hiệu trong tế bào cơ tim giảm, từ đó huyết áp hạ. Ngoài ra, việc tác động lên kênh calci vỏ thượng thận ức chế sự tiết aldosterone, giảm giữ muối và nước, góp phần hạ huyết áp.

Việc thuốc ưu tiên trên cơ nào hơn (cơ thành động mạch hay cơ tim) tùy thuộc vào nhóm thuốc. Do đó, tùy vào bệnh tình của bệnh nhân mà chọn thuốc phù hợp.

Các thuốc chẹn kênh calci thường gặp: nifedipin, amlodipin, diltiazem, verapamil…

Thuốc chẹn β-adrenergic

Trong hệ giao cảm, thụ thể β-adrenergic xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau trong cơ thể với tác dụng khác nhau, gồm 3 loại là β1, β2 và β3, trong đó trên tế bào cơ tim, loại thụ thể ta gặp là β1 (thụ thể β2

cũng có nhưng với số lượng ít hơn nhiều). Kích thích thụ thể này làm tăng sức co bóp cơ tim và tăng huyết áp. Các thuốc có tác dụng chẹn thụ thể này sẽ có tác dùng giảm sức co bóp cơ tim và giảm huyết áp.

Các tác dụng phụ mà các thuốc này gây ra thường do tính chọn lọc của nó trên các thụ thể. Thuốc nào tính chọn lọc trên β1 càng kém thì càng nhiều tác dụng không mong muốn. Tuy nhiên đáng buồn là không có thuốc nào mà hoàn toàn chỉ tác dụng trên β1 cả.

Các thuốc chẹn β-adrenergic thường gặp: propranolol, acebutolol, nebivolol…

Thuốc ức chế hệ RAA

Tóm tắt hoạt động của hệ RAA
Ảnh: Tóm tắt hoạt động của hệ RAA.

Hệ RAA có vai trò quan trọng trong quá trình điều hòa huyết áp. Khi có một lí do nào đó làm huyết áp tụt, mức lọc cầu thận giảm, các tế bào cận cầu thận sẽ tiết ra renin. Renin có tác dụng chuyển angiotensinogen được sản xuất bởi gan thành angiotensin I. Sau đó dưới tác dụng của men ACE ở phổi, angiotensin I được chuyển thành angiotensin II. Angiotensin II liên kết với thụ thể AT1 có tác dụng co mạch, hoạt hóa giao cảm, kích thích tuyến thượng thận tăng tiết aldosterone, kích thích tuyến yên tiết ADH (hormon chống bài niệu), tăng giữ muối và nước, từ đó gây tăng huyết áp.

Các thuốc ức chế hệ này gồm 3 nhóm nhỏ:

  •   Thuốc ức chế renin trực tiếp: Aliskiren là thuốc duy nhất của nhóm này cho đến nay được sử dụng trên lâm sàng. Nó ức chế trực tiếp hormon đầu tiên trong quá trình trên nên ức chế sự sản sinh angiotensin II, giúp hạ huyết áp.
  •     Thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACEIs): Các thuốc nhóm này ức chế hình thành angiotensin II nhờ ức chế men ACE tại phổi, từ đó giúp hạ huyết áp. Tác dụng phụ nổi bật của thuốc này là gây ho.

Các thuốc thường gặp: enalapril, perindopril, fosinopril…

  •   Thuốc chẹn thụ thể angiotensin (ARBs): Các thuốc này không ngăn chặn sự tạo thành angiotenin II như hai thuốc trên, thay vào đó nó ức chế thụ thể AT1 của angiotensin II làm hormon này không phát huy được tác dụng, giúp hạ huyết áp.

Các thuốc thường gặp: valsartan, telmisartan, candesartan…

Thuốc chủ vận thụ thể α­2-adrenergic

Các thuốc nhóm này là chất chủ vận α­2-adrenergic ở trung ương, không giống như thuốc chủ vận thụ thể α­1 gây tăng huyết áp, chủ vận α­2 có tác dụng giảm hoạt tính giao cảm ngoại vi nên hạ huyết áp.

Methyldopa là thuốc chỉ định đầu tay cho tăng huyết áp ở phụ nữ mang thai.

Các thuốc thường gặp: methyldopa, clonidine, guanfacine, guanabenz (thường sử dụng trong tăng huyết áp không đáp ứng với các thuốc thường dùng)…

Thuốc lợi tiểu

Thuốc lợi tiểu có tác dụng tăng thải nước và muối, giảm thể tích tuần hoàn nen giảm huyết áp. Thường không dùng đơn độc mà dùng kết hợp với các thuốc hạ huyết áp khác, đặc biệt là nhóm ACEIs hoặc ARBs.

Tác dụng phụ thường thấy của nhóm này là gây hạ kali huyết (trừ một số thuốc lợi tiểu giữ kali).

Các thuốc thường gặp: hydrochlorothiazide, furosemide, spironolacton…

Thuốc giãn mạch trực tiếp hoặc có cơ chế khác

Các thuốc này có cơ chế khác các cơ chế trên, thường gây giãn mạch nhanh và mạnh nên thường dùng trong tăng huyết áp cấp cứu hoặc kháng trị.

Nhược điểm của các thuốc này là gây hoạt hóa hệ RAA (cơ chế bù trừ của cơ thể) làm huyết áp tăng nhanh trở lại.

Các thuốc thường gặp: hydralazine, fenoldopam, các nitrat hữu cơ (nitroglycerin, isosorbid dinitrat) thường dùng trong điều trị đau thắt ngực hơn nhưng cũng có thể sử dụng trong tăng huyết áp cấp cứu.

Trong thực tế, với bệnh nhân chỉ có tăng huyết áp nhẹ, thường bác sĩ sẽ chỉ yêu cầu thay đổi lối sống, có thể sử dụng một thuốc hạ huyết áp. Với các trường hợp tăng huyết áp trung bình hoặc nặng, thường sẽ phải phối hợp 2,3 hoặc thậm chí là 4 thuốc hạ huyết áp để đạt hiệu quả điều trị.

Sơ đồ tóm tắt phối hợp thuốc điều trị tăng huyết áp trên thực hành lâm sàng:

Sơ đồ các thuốc điều trị tăng huyết áp trên lâm sàng
Hình ảnh: Sơ đồ các thuốc điều trị tăng huyết áp trên lâm sàng

Chú thích: Đường màu xanh: kết hợp ưu tiên. Đường màu tím: không khuyến khích kết hợp. Đường nét đứt: kết hợp chấp nhận được.

Bài trướcPrednisolon 5mg
Bài tiếp theoBromhexine
Tên tôi là Kiều Tuấn Bình (biệt danh Bình Mực). Tôi tốt nghiệp Dược sĩ Đại học Dược Hà Nội năm 2017, là khóa 67 của trường, sở thích đá bóng. Tôi là Founder của Pharma360 - Thông tin tuyển dụng nhân sự ngành Dược là kênh tuyển dụng nhân sự ngành dược lớn nhất Việt Nam. Tôi viết thông tin thuốc, bệnh học,... lên website Heal Central với mong muốn được chia sẻ thông tin khoa học về y tế đến người dùng rộng rãi hơn, đẩy xa thông tin giả mạo và phản khoa học về y tế.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây